phải không?
Mải buông hồn theo suối mộng ... đùa dai với ông cò Sài gòn Văn Bình quên bẵng chàng không còn ở Sài gòn mà đang đứng như bị trời trồng trên nền bê-tông cứng đét của một quốc gia cộng sản rất ghét những kẻ hay nghịch và rất thù những kẻ hành nghề gián điệp như chàng.
- Ông Kêvin?
Người lạ gióng tiếng hai lần Văn Bình mới nghe thấy. Chàng giật bắn người, quay lại:
- Vâng, tôi đây.
Trong thời gian qua, Văn Bình mắc một chứng bệnh mới, bệnh đãng trí. Chàng đã tự nhủ nhiều lần "mình là Kêvin, mình là Kêvin" thế mà vẫn quên, phải gọi hoài, gọi mãi chàng mới nhớ. Kể ra trong quá khứ Văn Bình cũng thường quên như vậy. Nhưng dạo này có vẻ chàng quên nhiều hơn. Có lẽ vì con ma rượu, và nhất là con ma tình ám ảnh. Nhưng cũng có lẽ vì chàng bắt đầu khinh địch một cách tắc trách.
Nhiệm vụ đầu tiên của điệp viên khi đặt chân xuống đất lạ, đặc biệt là đất thù là phải nhớ tên mượn, và nhớ kỹ tiểu sử. Nhưng bài học nhập môn trong trường điệp báo đều dạy điều đó. Trên thực tế, nhiều điệp viên tây phương đã mất mạng oan uổng vì quên tên. Một thiếu tá trong C.I.A. giả làm diễn viên sân khấu của một quốc gia cộng sản Trung-Âu đứng đợi xe điện ngầm ở Mạc tư khoa đã bị xích tay, chở về khám đường Lubiănka, lãnh một viên đạn vào gáy vì nhân viên KGB gọi tên ba lần ngay bên tai mà không thưa. Một thương gia Anh kiêm nhân viên MI-6 cũng bị giết chết trong trường hợp tượng tự tại Tirana: y làm tình với một cô gái Anbani, nhân viên chìm của sở Mật vụ Sigurimi trong cơn say sưa, cô gái gọi tên y, y chỉ hờ hữ nên vô tình tiết lộ là y đội tên giả.
Mật vụ Sigurimi khét tiếng trên thế giới về thủ đoạn gọi tên người lạ bất thình lình để khám phá điệp viên tây phương ngụy trang. Sự ngạc nhiên của Văn Bình có thể là một dấu hiệu khiến mật vụ nghi ngờ.
Văn Bình vội che giấu sự sửng sốt bằng một nụ cười thật tươi. Cũng may sự biến đổi của chàng chỉ thoáng qua nên không bị để ý.
Kẻ gọi tên chàng là một người trung niên hơi lùn, nếu đối chiếu với tiêu chuẩn tây phương. Không những thấp, hắn còn mập nữa. Từ đầu xuống chân hắn chỉ là một khối thịt bèo nhèo, cái sọ dừa tròn như hòn bi ve đặt trên cái cổ cũng tròn, và dính vào tấm thân tròn lẳn. Chàng có cảm tưởng là hắn không có cổ. Nếu hắn không chìa ra bắt thì Văn Bình có ấn tượng hắn không có cả tay nữa.
Bất giác Văn Bình liên tưởng đến Bôrết, đến gã mật vụ đón chàng tại phi trường Mạc tư khoa, đến những nhân viên Nhà nước nghênh tiếp chàng tại phía sau bức màn sắt. Toàn thể đều giống như giọt nước. Giống nhau ở bộ y phục đen thùng thình ống quần rộng đã đành, áo vét-tông cũng rộng như thể áo mượn, thậm chí lưng quần còn rộng thêm hàng chục phân nữa. Nhưng giống nhau nhất là bề cao và bề ngang. Hầu hết đều không cao. Hầu hết đều to ngang. Và dường như họ chỉ ăn toàn thịt, toàn mỡ nên người nào cũng béo như cái chum. Và dường như họ trừ hao còn béo thêm nữa nên người nào cũng may áo rộng thêm hai, ba cỡ ...
Nghĩ vậy Văn Bình mỉm cười.
Gã béo cũng cười theo. Hắn lắc bàn tay chàng thật mạnh rồi hỏi:
- Ông nghĩ đến ngày vui ở Mạc tư khoa phải không?
Văn Bình đáp:
- Vâng, vui lắm. Chỉ tiếc là tôi lưu lại có 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi.
- Ông là người Mỹ mà có óc trào lộng ghê. Chắc ông giận họ lắm!
- Ồ, ông cũng biết tin tôi bị chính phủ Liên sô làm khó dễ ư?
- Biết rất rõ. Cái gì chúng tôi chẳng biết. Chúng tôi thành thật khen ngợi ông. Trong thời gian ở đây ông sẽ thấy một sự đối xử hoàn toàn khác. Ông sẽ thấy chính quyền dân chủ nhân dân Anbani hoàn toàn khác bọn xét lại sô viết.
Phi đạo đã bắt đầu vắng. Sau khi đoàn công-voa mercédès biến dạng, đám đông nghênh tiếp cũng giải tán. Hàng trăm người với đủ nhạc khí cồng kềnh, với bọn thiếu nhi quàng khăn đỏ, hai tay nặng chĩu vòng hoa, đã biến đâu mất như có phép quỷ thuật.
Văn Bình cũng không nhìn thấy Vêlana và Khơrút đâu cả. Gã béo vỗ vai chàng:
- Mời ông ra xe.
Giờ đây chàng mới có thời giờ quan sát hắn. Mặt mũi hắn không đến nỗi hãm tài mặc dầu chỉ nhìn phớt qua ai cũng biết hắn là cớm thứ thiệt. Hắn đã lấy cái mũ dạ cầm tay, nhưng cái lối bẻ vành vũ hơi cong của hắn chứng tỏ hắn là mật vụ viên chuyên nghiệp. Mắt hắn hơi nhỏ, bất lợi khi nhìn xa, nhưng bù lại hắn có lỗ mũi lớn quá khổ, có thể đánh hơi mùi vị trong đường kính trăm thước. Tai hắn vểnh lên như tai chó bẹt-giê và cũng dài, cũng nhọn như thế. Dĩ nhiên hắn phải là người thính tai.
Chàng chỉ hơi phàn nàn cái miệng. Miệng đã nhỏ lại luôn luôn mím chặt, làn môi vừa mỏng lét vừa thâm sì. Mỏng môi là hạng người ăn gian nói dối. Mùi bạc hà từ răng hắn xông ra làm Văn Bình cười thầm. Ngậm kẹo bạc hà để đi đón khách ngoại quốc, hắn đã tỏ ra thận trọng và lịch sự hết mực. Hắn đã cứu chàng khỏi chết ngạt.
Hắn không tự giới thiệu, Văn Bình cũng không muốn hỏi tên hắn làm gì. Vì hỏi vô ích. Nếu bị hỏi dồn hắn sẽ khai tên láo. Và biết đâu hắn lại thắc mắc về tính tò mò của chàng. Hoạt động ở sau bức màn sắt phải biết kềm hãm tính tò mò.
Hắn bước về phía một chiếc xe hơi sơn đen đậu bên ngoài phi đạo. Anbani là đồng minh ruột thịt của Trung cộng có khác, xe hơi cũng từ Bắc kinh gởi sang, mặc dầu Âu châu là lò sản xuất hàng triệu xe hơi hàng năm.
Nhìn qua Văn Bình biết là xe Fan Hoan. Nghĩa là Phượng hoàng. Tên là phượng hoàng mà nó chẳng có mảy may đức tính của chim phượng hoàng, nghĩa là hình thù đẹp đẽ và tốc lực phi thường. Về mã ngoài, có chỉ là sự cóp nhặt quê kệch và vụng về của chiếc mercédès 15 năm trước, kiếng chắn gió vuông vức, phẳng lì không cong tròn như các kiểu xe hơi thời thượng, cẳng nó lại cao lên nghiêu, còn cao hơn cả xe Rolls nữa. Văn Bình chưa được ngồi trên xe Fan Hoan vì mỗi năm kỹ nghệ Hoa lục chỉ sản xuất được vẻn vẹn 500 chiếc tại nhà máy Thượng hải cũng như 50 chiếc Hongshi sang trọng sản xuất tại Mãn châu hàng năm, và chỉ dành riêng cho các quan to.
Nệm xe được bọc bằng vải kaki vàng khiến bộ mã của nó đã ảm đạm càng ảm đạm thêm. Gã béo mới đặt đít, nệm xe đã lún xuống. Ông nhún và lốp xe có vẻ không đủ sức để chịu đựng khối thịt nặng nề của hắn. Hắn choán gần phân nửa băng sau, Văn Bình đành nép một bên.
Miệng hắn bô bô:
- Ông đã có dịp đi xe Fan Hoan này chưa? Tốt dáo để. Tốc lực của nó có thể tới 150 cây số-giờ.
Văn Bình gật gù:
- Chưa. Đây là lần thứ nhất. Thật là hân hạnh cho tôi. Máy nó nổ êm ghê!
Gã béo híp mắt:
- Tôi sẽ dành riêng cho ông một chiếc Fan Hoan để đi thăm danh lam thắng cảnh trong thành phố. Ông mới đến Tirana lần thứ nhất chứ?
- Vâng, lần thứ nhất.
- Ồ, chắc ông sẽ mất nhiều thời giờ cho các danh lam thắng cảnh. Ông đừng ngại chúng tôi có bổn phận săn sóc ông được chu đáo.
Văn Bình lên tiếng cám ơn. Chàng đã biết thế nào là "bổn phận săn sóc" của mật vụ Sigurimi.
Xe đã chạy ra khỏi phi trường.
Gã béo nói đúng thật! Fan Hoan là xe hơi "tốt đáo để". Chưa ra khỏi phi trường tài xế đã xả hết tốc độ. Chàng liếc nhìn đồng hồ tốc độ: 130 cây số. Đối với xe hơi tây phương thì trên xa lộ chạy 130 là thường. Nhiều lần Văn Bình đã chạy trên 200. Nhưng đối với chiếc Fan Hoan thì 130 cây số giờ đã là một thành tích ghê gớm, vì bốn bánh nó chồm lên, lạng sang trái, sang phải, vỏ xe kêu ầm ầm như bị xút hết đinh ốc và long hết mối hàn. Văn Bình phải nắm lấy cái tay cầm trên cửa để khỏi bị lúc lắc.
Có lẽ muốn khoe khoang kỹ thuật ráp xe hơi của đồng minh Trung hoa nên tài xế đã không ngần ngại đùa với tử thần. Nhưng nghĩ kỹ thì con đường từ trường bay về trung tâm thành phố, tuy không tốt lắm, cũng có thể chạy trên 200 cây-số giờ một cách dễ dàng.
Vì lẽ chiếc Fan Hoan gần như là chiếc xe duy nhất. Chốc chốc mới có một chiếc xe chạy ngược chiều. Không một chiếc nào bóp kèn điếc tai sau lưng, cũng không một chiếc nào vù vù qua mặt. Bỗng dưng Văn Bình nẩy ra ý muốn ở lại Tirana. Chàng vốn thích lái xe nhanh, thật nhanh nhưng chưa có dịp. Trên thị trường xe đua quốc tế đã có những chiếc chạy được 300 cây số-giờ trở lên. Mỗi khi cơn ghền tốc độ nổi dậy trong lòng, Văn Bình đành phải dằn xuống vì đường xá ớ Á châu, và ngay cả ở Mỹ châu cũng không cho phép phóng đến 300. Năm thì mười họa Văn Bình mới được diễm phúc nhìn cây kim đỏ vượt qua con số 300. Những lần ấy là ở Âu châu, trên những đoạn đường ngắn dành cho cua-rơ xe hơi, hoặc là xa lộ riêng do các công ty xe hơi thiết trí để thí nghiệm thần mã cơ khí.
Được ở Tirana, chàng sẽ tha hồ chơi xe. Nếu cần, chàng sẽ yêu cầu nhà cầm quyền cấm lưu thông trên vài ba trăm cây số để cho chàng trổ tài.
Gã béo hét vào tai chàng:
- Núi Dajti đấy, ông thấy không?
Văn Bình bừng tỉnh mộng. Qua những cánh đồng và nhà máy dọc hai bên xa lộ, xe bắt đầu chạy vào ngoại ô thủ đô Tirana. Thành phố Tirana nằm phía trước rặng núi Dajti tuyệt đẹp.
Tài xế đã lái vào thành phố. Cũng như khi ở xa lộ, tài xế không phải bóp kèn. Tuy nhiên, hắn cũng giảm tốc độ. Văn Bình đâm ra thương hại và khâm phục giới tài xế Sài gòn. Trời nóng như thiêu như đốt, từ sáng đến trưa ngồi sau vô-lăng, chưa được ăn cơm, chưa được uống nước, bụi đường bay tối mù, mùi ét-xăng từ hàng ngàn ống sáp-măng xông ra nghẹt mũi, nhức đầu mà còn phải bóp kèn lia lịa, càng bóp lại càng thấy xe hai bánh hiện ra lúc nhúc, càng thấy thiên hạ phớt tỉnh, không thèm nghe ... Tài xế Tirana cũng như của các thủ đô cộng sản sẽ thất nghiệp nếu bị đưa qua Sài gòn làm nghề ... tài xế. Nếu không thất nghiệp thì họ sẽ vào khám Chí hòa về tội gây tai nạn lưu thông ...
Xe lướt qua tòa nhà Quốc hội. Sau cùng đến một đại lộ rộng thênh thang. Cuối đại lộ là công trường Scanderbeg. Cũng như quảng trường Ba Đình ở Hà nội, đây là một trục lưu thông bát ngát được dùng làm địa điểm mét-tinh hoan hô và đả đảo. Văn Bình nhận thấy các thủ đô cộng sản có nhiều nét giống nhau. Thủ đô nào cũng có một quảng trường mênh mông ở trung tâm, đủ rộng để chứa hàng nửa triệu người. Và ở quảng trường này chắc chắn phải có một bức tường đại lãnh tụ.
Sừng sững trước mắt Văn Bình là bức tường đặt trên bệ cẩm thạch đồ sộ của Sít ta Lin. Nhà độc tài sô viết án ngữ một khoảng đất lớn của quảng trường. Trong khi mọi bức tường và chân dung của họ Sít bị tháo gỡ tại Liên sô thì chính phủ Anbani lại tiếp tục tôn sùng.
Văn Bình có thể không nhìn thấy tượng Sít ta Lin, nhưn